Nhà không nóc

Con trai chị nói má đừng đi chợ nữa, ở nhà có gì ăn nấy... Nó nói vậy rồi buông thõng câu nói giữa chừng. Chẳng biết hôm đó có chuyện gì, nó vốn ít nói, cả ngày cùi cụi với ruộng đồng, vườn tược, những lúc chỉ có hai mẹ con thì cũng chẳng mấy khi nghe tiếng nó, cứ im ắng như nhà vắng chủ. Chị nấu cơm, quét sân rồi lui cui dọn dẹp, thỉnh thoảng nói bâng quơ một mình riết rồi quen, đôi lúc tự nhiên mong có tiếng chó sủa trước nhà, sao cứ bồn chồn như đợi ai...

Đẩu ít khi rảnh rỗi, đi ruộng về là trời đã tối mịt, những hôm ở lại canh nước lớn nhét bọng thì còn trễ hơn. Tắm rửa, ăn cơm xong đã gần nửa đêm nhưng nó chưa chịu ngủ, ra cái võng buộc giữa hai cây dừa bên hông nhà nằm đong đưa. Cái thằng hổng giống ai, lỡ ngủ quên bị gió máy rồi sao đây, những đêm như vậy chị cũng không ngủ được mà cứ leo lên leo xuống giường, canh thằng con ngủ quên để nhắc nó vô nhà.


MINH HỌA: HOÀNG TƯỜNG.


Ruộng nhà mới cấy xong, vừa bón phân thúc thì nó đi làm vần công cho người ta, khi thì dặm lúa, đánh lá mía, lúc lại tát bờ bao, bà con hàng xóm ai cũng bảo chị có một thằng con trai mà bằng nhà khác có ba bốn đứa, chị nghe khen mà không vui, chỉ thấy buồn trìu trĩu. Tội nghiệp con chị, không có cha nên từ nhỏ đã gánh vác hết việc đáng lẽ dành cho người đàn ông trụ cột trong gia đình.

Ai cũng nói Đẩu giống ông Tư Bèn như đúc, như cắt mặt để qua vậy. Mỗi lần nghe câu đó là lòng chị nhói đau. Thà ngày xưa mẹ con chị bỏ xứ đi cho khuất mặt khuất mày, mà nếu thằng Đẩu đừng giống ổng nhiều vậy thì chắc chị nhẹ lòng hơn.
Chị bán dừa khô, thời con gái...

Nhà chị ngày xưa cũng chỉ có hai mẹ con côi cút, vườn rộng trồng toàn dừa, dừa từ thời ông bà để lại, cây đã lão lêu nghêu nhưng trái cứ sai oằn. Ngày nào má con chị cũng với sào chọc dừa, lột vỏ rồi chở bằng xuồng ra chợ bán. Chị có duyên bán hàng nên cứ trưa là bơi xuồng nhẹ tênh về nhà. Chuẩn bị xuồng đi chợ từ ba bốn giờ khuya, má chị bao giờ cũng bắt chị phải mặc quần lãnh đáy nem, cái kiểu quần mà chị ghét cay ghét đắng, nó làm cho cái mông tròn trịa của chị trông cứ bề xề như đàn bà có mấy con. Con gái mà mặc quần đáy giữa đến nhà chơi là bà già cấm cửa. Chị không dám cãi nhưng bơi xuồng ra khỏi nhà một quãng, tấp vào bụi lùm khuất um tùm bên mé rạch là chị giở thúng lấy cái quần giấu trong đó ra thay, vậy mà một lần bị Tư Bèn bắt gặp, lần đó chị đâu có ngờ khuya khoắt vậy mà... Tư Bèn theo chị, không chỉ bốn giờ sáng mà từ hồi đầu hôm lận, nhưng không dám vào nhà vì sợ má chị, nên canh giờ chị chuẩn bị xuồng đi chợ là lén chạy trên bờ theo... Má chị mất trong nỗi tủi nhục vì con gái không chồng mà có chửa. Đứa con gái hư thân, không chịu nghe lời má, cứ lén mặc quần đáy giữa ra đường. Mấy tháng sau Tư Bèn có vợ, chẳng ở đâu xa, chỉ bên kia rạch, nhưng không phải là chị mà là con gái của một nhà giàu có mấy đời.

Con lớn nhất của Tư Bèn là đứa con trai có với chị, nhưng nó chưa một lần gọi ổng là ba. Sinh thằng Đẩu mới một ngày, hôm sau đã thấy Tư Bèn lùi lũi vô thăm, mới cưới vợ mấy tháng mà giờ vô nhà bà mụ thăm đẻ, sợ người ta nhìn ngó nên đội cái nón lụp xụp che gần nửa mặt, tay luống cuống xách giỏ đựng bọc thịt, mấy hộp sữa, chục cam. Chị quay mặt vào trong vách khóc nức. Bà mụ hét tướng, giọng nóng như lửa: Trời ơi, ai đâu đàn bà mới sanh mà khóc như vậy, thôi chú về đi chứ điệu này là hỏng xong rồi. Tư Bèn bối rối chưa kịp nhìn mặt thằng nhỏ đã dợm bước ra khỏi phòng vì bị bà mụ hét như đuổi tà. Đó là lần đầu tiên ba thằng Đẩu ghé thăm nó.

Rồi những lần lui tới nhà người đàn bà không chồng mà có con, phụ xách nước, bắc lại cây cầu, lợp lại cái nhà đựng củi cũng tới tai vợ Tư Bèn. Mà đâu có cần dông dài, chuyện ngày trước Tư Bèn đeo đuổi chị từ đầu làng cuối rạch ai chẳng biết. Ở đời làm gì có chuyện đàn bà tự nhiên có chửa. Chị không muốn làm người thứ ba phá hoại gia cang người ta, cái tội đó có sám hối đến chết cũng không hết, nhưng cuộc đời lại trớ trêu đặt chị vào hoàn cảnh ấy, khi là người đến trước mà không có chỗ. Ngày vợ Tư Bèn sinh đứa con gái đầu lòng thì chị đang có bầu con Sao hơn hai tháng. Chỗ dại dột của đàn bà là ở cái tai cứ thích nghe lời tỉ tê ngon ngọt, đã lỡ một lần mà không biết hối, cứ theo đà trượt dần mãi vào đường cùng. Chị giận chính chị, cả đời chị không tha thứ được cho mình chứ đừng nói chi người ta.

Người ta ở đây là vợ Tư Bèn, là má của ổng. Đừng tưởng tui không biết gì, sống chung rạch gặp nhau hà rầm mà làm chuyện giựt chồng người ta không biết xấu hổ hả. Còn lẹo tẹo với chồng tui là tui không để yên đâu. Chị đã muốn dứt khoát, không liên quan gì nữa với người đàn ông là ba của hai đứa con chị, người làm cho đời chị lận đận với cái tiếng giựt chồng. Nhưng ổng đâu có chịu, cứ lui tới hoài, không ban ngày thì ban đêm, dù chị không chừa cửa, dù con Sao vẫn hồn nhiên nghe lời chị đuổi thẳng ổng về, còn thằng Đẩu lúc nào cũng chào ổng với ánh mắt xa lạ. Vậy mà ổng cứ ghé, đến nỗi con mực ở nhà cũng đã quen hơi.

Một bữa má ổng xuống, không còn chửi bới dấm dẳng như trước nữa mà bảo chị cho thằng Đẩu vô nhà chơi, thăm ông nội nó bịnh gần năm nay, bây giờ đang nằm một chỗ. Chị đã thấy có gì đó bất an, trong bụng cứ nôn nao lo lắng. Ngày chị biết vợ Tư Bèn không nói suông cũng là ngày mà chị thấm thía rằng, tại sao người ta thường đem những chuyện cả xấu, cả tốt ra chợ bàn tán, bởi giữa cái chốn đông người đó, có sự trắng đen gì cũng tuồn tuột lộ ra, trơ trụi, chẳng cần biết nguyên nhân vì đâu nên nỗi.
Mấy trái dừa khô bị hất lăn long lóc ra đường, trận mưa chổi khiến chị không còn chỗ tránh, mà cũng không biết tránh đi đâu, chỉ đứng trơ ra cho người ta quất tới tấp vào người, vào mặt. Gần năm mươi tuổi đầu, với trận đòn ghen, chị buốt đau tê tái như người bị cắt từng thớ thịt bằng một con dao cùn. Xuồng trở về nhà, nặng trĩu mái dầm ngược nước, vai rát rạt những vết cào vừa ráo máu, giữa ngã ba sông, chị thấy hai tay mình như rụng mất rồi, không cử động nổi nữa, cây dầm lỏng khỏng, chông chênh giữa đám sóng tàu trờ tới. Chị bất thần lật úp xuồng, lúc đó chỉ muốn nhấn chìm mình đi để rửa hết nỗi tủi nhục của người đàn bà mang tiếng giựt chồng. Nghèn nghẹt nước, chị ôm một bên mạn xuồng từ từ chỉm lỉm, chợt nhớ lại cái nhà mình từ lâu đã không có nóc, chẳng lẽ chị để nó mất luôn phên, dù mái phên có tồi tàn, ủ dột. Rồi các con chị sẽ trú ở đâu khi gió mưa, rét lạnh... Trôi tấp vào bụi lùm bên mé sông, nước ngang cổ, chị chụp cái nón lướt thướt nước phủ lên đầu, để người ta chỉ thấy có cái nón lá rách trôi sông, đâu biết...

Vợ Tư Bèn không sinh con trai, ba đứa con gái lần lượt ra đời khiến cho má ổng khắc khoải từng ngày. Giờ chị mới biết vì sao bà muốn thằng Đẩu vô nhà chơi, rồi trận đòn ghen cũng có nguyên nhân sâu xa của nó. Chứ tiếc gì cái lão dở người dở ngợm ấy. Giữa tiếng chì tiếng bấc trong đợt mưa chửi của vợ Tư Bèn, chị vẫn còn nhớ câu nói đó. Chị cấm cửa Tư Bèn xuống nhà từ dạo ấy, mỗi lần vừa thấy bóng ổng thấp thoáng ngoài cầu ván là con Sao nghe lời chị chạy ra đóng cửa lại. Ổng đứng lặng nhìn vô một hồi rồi thất thểu đi về, có hôm ngồi cả buổi dưới gốc dừa ngang cửa nhìn chằm chằm qua nhà chị, cái lưng còng thiểu não như người thất chí. Ai đi ngang cũng tò mò dòm, người không biết tưởng ổng đang rình rập gì nhà chị. Từ bữa chợ đó, thằng Đẩu ngày càng lầm lì hơn, đêm nào chị cũng thao thức theo tiếng võng kẽo kẹt bên hông nhà. Gió đêm khiến chị lật bật lên xuống giường canh, sợ nó ngủ quên, những giấc ngủ yên hiếm dần với mẹ con chị.

Hồi còn trẻ, chị thuộc hết mấy câu vọng cổ trong tuồng Tô Ánh Nguyệt, đoạn cô Nguyệt gặp lại người xưa. Giờ mỗi lần coi lại là cả đêm trằn trọc không ngủ được, thấy sao cái khổ của cô đó cũng giông giống mình hay vì mình thích tuồng đó quá nên nó vận vào thân. Nghĩ quanh quẩn mà có khi tới sáng cũng chưa chợp mắt được. Coi tuồng vậy thôi chứ ở ngoài đời người ta làm sao giống như trong tuồng được. Chuyện qua rồi, có muốn níu lại cũng không được. Cũng thấy đau khi nhìn ổng cứ lầm lũi đến rồi lại quay về. Cũng thấy nhói lòng khi nhớ lại mấy chuyện ngày xưa.

Hồi đó ổng và chị đều còn trẻ, đâu có nghĩ gì nhiều về chuyện nhà ổng có tủ thờ khảm xà cừ, cột nhà cái nào cũng đính mấy bảng chữ nho. Nhớ ổng sức trai khỏe khoắn, lội bộ cả quãng rạch dài theo xuồng chị. Xuồng nước xuôi bơi nhanh lắm, vậy mà ổng cũng đi kịp, có bữa chị lén má để thêm cây dầm dưới xuồng, vừa ra khỏi rạch là ổng nhảy phóc xuống mũi bơi tiếp chị, tới chợ vừa rạng sáng ổng phải lội bộ trở về nhà.

Cái thời trai gái yêu nhau ngày xưa qua rồi, giờ chị đã an phận nuôi con, bao nhiêu năm qua mẹ con chị có đòi hỏi gì đâu, sao ổng cứ lui tới hoài để người ta dị nghị, vợ ổng xài xể đủ điều. Chị sống trong làng mà không dám ngửa mặt với ai, nỗi mặc cảm khiến mẹ con chị luôn nén lòng lại với mọi người. Nhưng có lẽ điều khiến chị đau khổ nhất là không thể dạy con mình. Chị không phải là một người mẹ gương mẫu nên làm sao có thể mở miệng dạy con đạo nghĩa làm người. May mà hai đứa con chị đều ngoan, nhưng chị biết, vì chị mà tâm hồn chúng bị khuyết, không được lành lặn trong trẻo như những đứa trẻ khác.

Thằng Đẩu chẳng khi nào nói với chị là nó không thích ông Tư Bèn. Chị cũng chưa bao giờ nói với các con đấy là cha của chúng. Nhưng miệng thế gian đã nói hết rồi, các con chị nghe nhiều và tự biết đó là sự thật, bởi có tránh đi đâu thì cái nét mặt, tướng đi của thằng Đẩu cứ giống ổng như đúc. Từ nhỏ chúng đã thấy có một người đàn ông cứ thỉnh thoảng ghé nhà, mua bánh kẹo và cho tiền tụi nó đi học, dù tụi nó chưa bao giờ dám lấy, nhưng cái cách ổng nhìn tụi nó, cách mà hàng xóm đồn đãi nhỏ to, làm sao mấy đứa nhỏ không biết.

Thằng Đẩu càng lớn càng lầm lì, ít nói hơn. Rồi một ngày nó bảo con không muốn ổng cứ xuống nhà mình hoài, nếu ổng còn xuống thì con đi. Chị biết nó nói là sẽ làm, tính nó trước nay vẫn vậy nhưng chị không ngăn ổng được. Càng nghe nó muốn tránh thì ổng càng tìm nó. Tình cảm máu mủ ruột thịt hay nỗi lo lắng không người nối dõi khiến ổng như nôn nóng hơn. Một ngày ổng chạy ra cái chòi nghỉ trưa ngoài ruộng tìm nó...

Vậy là chị không giữ được con mình nữa, nó bỏ đi thành phố. Nhìn dáng nó lầm lũi bước qua bóng đám lá dừa in dưới lòng cầu, đêm tối nhờ nhờ, chị khuỵu xuống thềm cửa..