Tôi không bao giờ hỏi: chị có hạnh phúc không? Bởi từ lâu, tôi đã quen với những kiểu trả lời mà rút cuộc, tôi không biết họ nói thật hay không.
Tôi chỉ sợ duy nhất một câu trả lời: Tôi không biết. Nhưng cũng chính vì không bao giờ hỏi nên tôi càng muốn biết: Chị có hạnh phúc không?
*
Chị có một đứa con gái. Phải công nhận: nó đẹp như Ngọc Nữ. Ai trông thấy cũng băn khoăn: chắc nó giống bố nên mới đẹp thế. Chứ giống mẹ thì... thường thôi.
Chị không đẹp nhưng càng nhìn càng thấy duyên. Ông chủ quán của chúng tôi luôn gật gù: “Duyên ngầm như sóng ngầm”. “Ác” lắm đấy”.
Lần đầu tiên gặp chị và Chip – tên thân mật của con bé – tôi đã rất ngưỡng mộ. Chị giống một thiếu phụ no nê hạnh phúc, không có vẻ tất bật lo toan của một người làm thuê. Vì vậy, lúc nào tôi cũng muốn biết chị có hạnh phúc không? Tôi cũng không hiểu vì sao lại luôn muốn hỏi một câu vừa ngốc, vừa thừa như thế.
Khi tôi và Quảng đến quán cà phê ven hồ này xin một chân làm thêm thì chị đã ở đó rồi. Quán cà phê vốn là ngôi biệt thự rất đẹp ở bên hồ. Hồ nước nhỏ, ven bờ trồng toàn liễu. Chị đến làm việc, mang theo cả Chip. Chip đang tuổi mẫu giáo nhưng không đi học. Cũng lạ, con bé đến chỗ mẹ làm việc mà ngoan quá chừng. Nó rất ít khi đưa ra những yêu cầu. Đôi khi nó ngồi chống cằm tư lự, dẫu cho trước mặt là nước hồ đen kịt, tanh lợm xác cá chết và rác thải nổi lềnh bềnh...
Lúc chiều chạng vạng thường vắng khách. Mấy chị em lại mang ghế ra cổng hóng gió, ngắm những con thuyền thiên nga khua trên mặt nước.
- Nhà chị đâu?
Chị cười, chỉ tay ra sau:
- Trên phố.
- Chồng chị đâu?
Chị thủng thẳng đáp:
- Đi làm nhà nước.
- Sao chị không cho Chip đi trẻ?
Chị bình thản:
- Mang nó theo cho đỡ nhớ chồng.
... Tôi thầm ganh tỵ với chị. Dường như chị có tất cả mọi thứ gọi là hạnh phúc giản dị mà một cô bé như tôi hằng mơ ước.
Hết chuyện chị, lại quay sang Quảng. Con trai miền biển mà lại nhỏ người, Quảng ít nói, nhưng nói có chất lượng, không bao giờ phàn nàn điều gì nên ai cũng quý. Quảng làm thợ sửa máy cho một xí nghiệp may mặc. Hết giờ làm, Quảng đến quán cà phê này để có thêm thu nhập... Nghe chuyện Quảng, chị tấm tắc khen: “Chịu khó ghê cơ, sau này vợ con được nhờ”. Chị quay sang tôi ỡm ờ: “Thằng này chí cao, không cam phận làm thuê mãi đâu nhá. Đứa nào lấy được nó là có phúc đấy”. Tôi cười mỉm đồng tình. Nhưng tôi không nhìn Quảng, vì tôi biết Quảng cũng chẳng nhìn tôi...
*
Tôi và em trai ở trọ trong một xóm nghèo ngoại thành Hà Nội. Sau nhà là một nghĩa địa mênh mông, những ngôi mộ trắng toát, và cả xanh rì... nằm im lìm bên hồ nước. Nước hồ cũng đen ngòm, bèo tây mọc quanh bờ trổ hoa tím ngát. Không hiểu vì quá thương mình nghèo khổ, phải đến ở nhờ cạnh nghĩa trang hay là vì sợ mà nước mắt tôi lăn dài trên má. Đêm sợ ma, tôi ôm cứng em trai. Nó làu bàu: “Chị lạ đời, ma quỷ có cuộc sống của ma quỷ, hơi đâu mà dọa chị cho mệt”.
Những ngày chủ nhật, tôi nấu cơm hai chị em ăn. Nhìn em trai ăn ngon lành, tôi nghĩ: “Mai này nó lấy vợ, nó có còn lo cho mình nữa không đây. Rồi suy nghĩ rơi vào trống rỗng. Nhìn nghĩa địa mênh mang vắng mà buồn. Những lúc ấy, tôi lại tìm cách nghĩ về nơi tôi đang làm việc. Quán cà phê sang trọng, đèn màu lấp lánh.
II
Tôi đụng chị ở ngõ. Chị ngạc nhiên:
- Ô, Diễm. Tìm chị hả?
Câu hỏi và cả sự xuất hiện của chị khiến tôi ngơ ngác.
Tôi theo chị về căn nhà cuối xóm. Nhà chật, cửa giả gieo neo. Đồ đạc ít ỏi và cũng không sang trọng ngoài tủ quần áo. Chị không cần mở tủ tôi cũng biết, trong đó toàn quần áo của hai mẹ con chị. Cái nào cũng sang, cũng đẹp. Thấy tôi nghệt mặt, chị giải thích:
- Ở nhà sao cũng được nhưng ra ngoài, chị không muốn bị người ta coi thường.
Phải. Gặp chị ở ngoài, ai dám bảo chị nghèo. Xe đẹp, áo váy đẹp. Chị khiến người ta nghĩ về một thiếu phụ hạnh phúc. Biết tôi ở cùng ngõ, chị cười như mếu:
- Vậy mà giờ mới gặp.
- Vâng – tôi cũng đắng ngắt cười. Nếu không gặp, chắc tôi vẫn nghĩ chị ở trên phố với người chồng giàu có. Ơ, mà chị không có chồng. Chị sống cùng mẹ già và con gái nhỏ. Mẹ chị, bà cụ có đôi mắt buồn như khóc.
*
Ở gần nhau, những ngày tôi được nghỉ, chị lại mang Chip sang cho nó chơi với tôi. Con bé luôn ngoan và biết im lặng. Chị không sang chơi khi có em trai tôi ở nhà bao giờ. Chị giãi bày: “Sợ em trai Diễm ghét. Loại người như chị dễ bị người ta coi thường lắm”.
Khi ấy tôi không hiểu hết ý nghĩa của câu: Loại người như chị.
Chị hay gán ghép trêu tôi và Quảng. Tôi cười. Quảng cũng cười nhưng mắt thì vời vợi buồn nhìn chị. Trong lòng tôi thực ra không nhớ Quảng, nên tôi không buồn.
- Chị gán ghép làm chi, anh Quảng thích chị mà?
Chị sằng sặc cười:
- Tầm bậy. Nó trai tơ, chị nạ dòng. Vả lại nó... nghèo quá.
Nếu tôi yêu Quảng, có lẽ tôi đã căm thù nhìn chị khi chị thốt ra những lời như thế. Nhưng vì tôi không yêu Quảng nên thản nhiên nhìn nắng lang thang ngoài nghĩa địa...
Quảng chăm chỉ đi làm, bất chấp cả khi khật khừ, hắt hơi, sổ mũi. Mọi người thấy chị cứ trêu tôi và Quảng nên cũng hùa theo. Quảng ái ngại:
- Em có sợ vì anh mà không ai dám yêu em không?
Tôi cười ngất ngư:
- Sợ gì mà sợ. Mà anh Quảng yêu chị Trâm thật à?
- Ờ! Nhưng mà Trâm đâu có để ý mình – giọng Quảng buồn rầu.
Tôi đem lời Quảng nói lại với chị. Chị cười ruồi.
- Rồi nó sẽ tỉnh ngộ thôi.
Rồi để minh chứng cho điều mình nói, hơn một lần, trước mặt tôi và Quảng, chị lên xe con cùng những gã “béo ngậy”. Và tôi thấy trong mắt Quảng một màu đen u ám. Quảng buồn nhiều lắm. Cái cảnh yêu thầm nhớ trộm sau mà làm khổ người ta đến vậy.
Thế mà chị ốm, Quảng cuống cuồng như hỏa hoạn. Tôi đến thăm, chị nằm trong nhà, thào thào:
- Nếu chị chết, mẹ chị và con Chip sẽ sống sao hả Diễm?
Tôi cười hăng hắc:
- Chị nhát chết quá. Trẻ thế, khỏe thế, mới cúm sơ sơ đã lo chết rồi.
Chị thở dài: Ở đây lâu rồi, cứ mở cửa trông ra sau, đập vào mắt là mấp môn hững nấm mồ. Những người sống gần nghĩa địa lâu ngày sẽ có hai cách nghĩ: một là quá quen với cảnh chết chóc đau thương, hai là lúc nào cũng nghĩ đến chết chóc.
Chị nói: Chị nhặt được Chip đem về nuôi. Ai đó đã bỏ rơi nó ven đường, đúng lúc chị đi qua thì nó khóc thét.
*
Tôi tin chị, ngon lành tin chị.
Tròn một năm làm ở quán ven hồ, tôi có cảm giác như không có gì thay đổi. Hôm qua, hôm nay và ngày mai cũng thế. Chỉ có tôi và Quảng là quen với vai trò người yêu hờ của nhau. Mắt Quảng buồn sâu hơn khi nhìn chị.
Ngày lễ, chủ quán mời mọi người ăn tiệc. Bữa tiệc ấy chị say mèm, tôi và Quảng phải hộ tống chị về. Dọc đường, chị nôn tất tật những gì đã ăn lên lưng Quảng. Quảng cằn nhằn: “Bà này buồn gì mà uống ác vậy”. Đêm ấy tôi ở lại trông chị. Nửa khuya, chị tìm điện thoại, tôi nghe giọng chị mênh mang: “Quảng à, em có bao giờ nhớ chị không?”.
Chị có lẽ chẳng chờ Quảng trả lời, cúp máy rồi im lặng.
Sáng hôm sau chị dậy, tỉnh táo như chưa hề có trận say mềm hôm truớc. Quảng xộc vào cửa, vẻ thẫn thờ, lo lắng. Thấy Quảng, chị phá lên cười khanh khách:
- Này em! Hôm qua nghe chị hỏi thế, sợ quá hay sao mà cúp máy vội vậy?
Quảng đứng im, lúng túng, định nói điều gì, lại thôi. Chị cười:
- Cái thằng... nhát gan thế. Chị dọa thôi. Vậy thì bao giờ mới lấy được vợ?
III
Quảng lấy vợ... Tần ngần cầm thiệp hồng trao tay anh chị em chủ quán. Việc Quảng lấy vợ ai cũng biết trước đó nhưng vẫn trêu tôi: “Ồ, sao tên cô dâu không phải Diễm vậy?”.
Ai được Quảng mời cưới cũng hăng hái đi dự. Thứ nhất vì ai cũng quý Quảng. Thứ nhì: nhà Quảng gần biển. Nói đến biển ai nấy đã sướng rơn rồi. Thật là một công đôi việc.
Biển quê Quảng đẹp và lãng mạn. Mặc cho mọi người mải vui chơi, tôi và chị ở nhà giúp Quảng dựng rạp, rửa bát đĩa. Mẹ Quảng cảm động, coi tôi và chị như con gái trong nhà. Lúc nào chị cười, Quảng cũng cười. Nhưng nhìn Quảng cười, tôi ước chi anh khóc. Anh khóc trông còn hay hơn nhiều...
Dâu rể xong xuôi cả “quán cà phê” kéo nhau về phố. Quảng và người thân bịn rịn vẫy tay chào. Chị là người cuối cùng lên xe. Xe chuyển bánh. Biển xanh bắt đầu trôi về phía sau...
Chị bật khóc.
Khóc nức nở.
Khóc thỏa thuê.
Khóc không giấu diếm.
Tất cả lặng đi để tiếng khóc của chị trôi về với biển.
*
Lúc này thì Chip đang ngồi chống cằm dưới gốc liễu bên hồ. Quanh hồ toàn liễu rủ. Những cây liễu mùa xuân mà khô khốc như đột ngột bị chết khô vậy. Năm nay rét đậm. Cá dưới hồ lại không chịu nổi. Lại chết. Xác cá nổi lềnh bềnh trên mặt nước cùng rác rưởi. Chip chống cằm tư lự như không nghe thấy gì, không ngửi thấy gì, không biết nó đang nghĩ gì...
Mấy ngày nay tôi đi làm, mang theo Chip, như xưa chị vẫn mang nó theo. Hai dì cháu dắt nhau đi bộ qua một dãy những ngôi biệt thự tuyệt đẹp đang hoàn thiện. Một chú bẹcgiê to vật vả bị xích ở gốc điệp ven đường. Mắt nó ánh lên điều gì đó như thiết tha, cầu khẩn. Chip lắc tay tôi:
- Dì ơi! Mình đón nó về nuôi đi!
- Không được. Nó có chủ, không phải chó hoang con ạ.
- Sao chủ nó lại không cho nó ăn?
Câu hỏi của Chip khiến tôi buồn tê tái. Chao ôi, Chip bé bỏng hai lần mồ côi. Lẽ nào linh cảm được nỗi bất hạnh của đời mình mà Chip sớm động lòng trắc ẩn.
Chip quấn quýt chị em tôi như thể nó biết, ngoài chị em tôi ra, chẳng còn ai thân thích trên đời. Từ ngày chị đi, Chip sống với bà ngoại. Hai bà cháu thui thủi, buồn sao là buồn. Đêm đêm, tôi nằm nghe muỗi bay vèo vèo quanh màn, tựa hồ như nghe thấy những linh hồn trong những nấm mồ ngoài nghĩa địa kia đang nói chuyện với nhau. Chuyện về những kẻ dương gian lắm điều, bạc bẽo. Tôi nghe tiếng Chip hồn nhiên nói với em trai tôi: “Cậu ơi, lớn lên cháu cưới cậu nhé!”. Tôi nghe lời chị thì thào nhòe ướt: “Diễm à, chị không ngốc đâu. Một người tốt như Quảng, chị ngu gì mà từ chối. Nhưng em ơi! Khi yêu, chẳng ai muốn đem bất hạnh cho người mình yêu. Chị đã mắc AIDS trong những lần đi khách. Chị...”.
Nghĩa địa ngổn ngang cỏ dại. Trong số những nấm mồ còn mới nguyên, có nấm mồ ghi tên chị.
Chip vẫn ngồi chống cằm tư lự. Gió hiu hiu thổi. Chip đang nghĩ gì nhỉ? Tôi không bao giờ hỏi con bé: “Con đang nghĩ gì?”. Không hỏi, nhưng tôi lại càng muốn biết con bé đang nghĩ gì. Có thể Chip đang nghĩ “Những cây liễu mùa xuân sao lại úa tàn như đã chết thế kia?”. Mà có thể Chip chẳng nghĩ gì hết. Một con bé con thì nghĩ gì nhiều cơ chứ...


Trả Lời Với Trích Dẫn