+ Trả Lời Ðề Tài
Trang 2/2
đầuđầu 1 2
kết quả từ 11 tới 13 trên 13

Ðề tài: Truyện ngắn.

  1. #11
    Thành Viên Cấp 3
    Tham gia ngày
    Feb 2008
    Đến từ
    Sapphire
    Bài gửi
    572

    Liễu mùa xuân

    Tôi không bao giờ hỏi: chị có hạnh phúc không? Bởi từ lâu, tôi đã quen với những kiểu trả lời mà rút cuộc, tôi không biết họ nói thật hay không.


    Tôi chỉ sợ duy nhất một câu trả lời: Tôi không biết. Nhưng cũng chính vì không bao giờ hỏi nên tôi càng muốn biết: Chị có hạnh phúc không?


    *

    Chị có một đứa con gái. Phải công nhận: nó đẹp như Ngọc Nữ. Ai trông thấy cũng băn khoăn: chắc nó giống bố nên mới đẹp thế. Chứ giống mẹ thì... thường thôi.

    Chị không đẹp nhưng càng nhìn càng thấy duyên. Ông chủ quán của chúng tôi luôn gật gù: “Duyên ngầm như sóng ngầm”. “Ác” lắm đấy”.

    Lần đầu tiên gặp chị và Chip – tên thân mật của con bé – tôi đã rất ngưỡng mộ. Chị giống một thiếu phụ no nê hạnh phúc, không có vẻ tất bật lo toan của một người làm thuê. Vì vậy, lúc nào tôi cũng muốn biết chị có hạnh phúc không? Tôi cũng không hiểu vì sao lại luôn muốn hỏi một câu vừa ngốc, vừa thừa như thế.

    Khi tôi và Quảng đến quán cà phê ven hồ này xin một chân làm thêm thì chị đã ở đó rồi. Quán cà phê vốn là ngôi biệt thự rất đẹp ở bên hồ. Hồ nước nhỏ, ven bờ trồng toàn liễu. Chị đến làm việc, mang theo cả Chip. Chip đang tuổi mẫu giáo nhưng không đi học. Cũng lạ, con bé đến chỗ mẹ làm việc mà ngoan quá chừng. Nó rất ít khi đưa ra những yêu cầu. Đôi khi nó ngồi chống cằm tư lự, dẫu cho trước mặt là nước hồ đen kịt, tanh lợm xác cá chết và rác thải nổi lềnh bềnh...

    Lúc chiều chạng vạng thường vắng khách. Mấy chị em lại mang ghế ra cổng hóng gió, ngắm những con thuyền thiên nga khua trên mặt nước.

    - Nhà chị đâu?

    Chị cười, chỉ tay ra sau:

    - Trên phố.

    - Chồng chị đâu?

    Chị thủng thẳng đáp:

    - Đi làm nhà nước.

    - Sao chị không cho Chip đi trẻ?

    Chị bình thản:

    - Mang nó theo cho đỡ nhớ chồng.

    ... Tôi thầm ganh tỵ với chị. Dường như chị có tất cả mọi thứ gọi là hạnh phúc giản dị mà một cô bé như tôi hằng mơ ước.

    Hết chuyện chị, lại quay sang Quảng. Con trai miền biển mà lại nhỏ người, Quảng ít nói, nhưng nói có chất lượng, không bao giờ phàn nàn điều gì nên ai cũng quý. Quảng làm thợ sửa máy cho một xí nghiệp may mặc. Hết giờ làm, Quảng đến quán cà phê này để có thêm thu nhập... Nghe chuyện Quảng, chị tấm tắc khen: “Chịu khó ghê cơ, sau này vợ con được nhờ”. Chị quay sang tôi ỡm ờ: “Thằng này chí cao, không cam phận làm thuê mãi đâu nhá. Đứa nào lấy được nó là có phúc đấy”. Tôi cười mỉm đồng tình. Nhưng tôi không nhìn Quảng, vì tôi biết Quảng cũng chẳng nhìn tôi...




    *


    Tôi và em trai ở trọ trong một xóm nghèo ngoại thành Hà Nội. Sau nhà là một nghĩa địa mênh mông, những ngôi mộ trắng toát, và cả xanh rì... nằm im lìm bên hồ nước. Nước hồ cũng đen ngòm, bèo tây mọc quanh bờ trổ hoa tím ngát. Không hiểu vì quá thương mình nghèo khổ, phải đến ở nhờ cạnh nghĩa trang hay là vì sợ mà nước mắt tôi lăn dài trên má. Đêm sợ ma, tôi ôm cứng em trai. Nó làu bàu: “Chị lạ đời, ma quỷ có cuộc sống của ma quỷ, hơi đâu mà dọa chị cho mệt”.

    Những ngày chủ nhật, tôi nấu cơm hai chị em ăn. Nhìn em trai ăn ngon lành, tôi nghĩ: “Mai này nó lấy vợ, nó có còn lo cho mình nữa không đây. Rồi suy nghĩ rơi vào trống rỗng. Nhìn nghĩa địa mênh mang vắng mà buồn. Những lúc ấy, tôi lại tìm cách nghĩ về nơi tôi đang làm việc. Quán cà phê sang trọng, đèn màu lấp lánh.


    II


    Tôi đụng chị ở ngõ. Chị ngạc nhiên:

    - Ô, Diễm. Tìm chị hả?

    Câu hỏi và cả sự xuất hiện của chị khiến tôi ngơ ngác.

    Tôi theo chị về căn nhà cuối xóm. Nhà chật, cửa giả gieo neo. Đồ đạc ít ỏi và cũng không sang trọng ngoài tủ quần áo. Chị không cần mở tủ tôi cũng biết, trong đó toàn quần áo của hai mẹ con chị. Cái nào cũng sang, cũng đẹp. Thấy tôi nghệt mặt, chị giải thích:

    - Ở nhà sao cũng được nhưng ra ngoài, chị không muốn bị người ta coi thường.

    Phải. Gặp chị ở ngoài, ai dám bảo chị nghèo. Xe đẹp, áo váy đẹp. Chị khiến người ta nghĩ về một thiếu phụ hạnh phúc. Biết tôi ở cùng ngõ, chị cười như mếu:

    - Vậy mà giờ mới gặp.

    - Vâng – tôi cũng đắng ngắt cười. Nếu không gặp, chắc tôi vẫn nghĩ chị ở trên phố với người chồng giàu có. Ơ, mà chị không có chồng. Chị sống cùng mẹ già và con gái nhỏ. Mẹ chị, bà cụ có đôi mắt buồn như khóc.


    *


    Ở gần nhau, những ngày tôi được nghỉ, chị lại mang Chip sang cho nó chơi với tôi. Con bé luôn ngoan và biết im lặng. Chị không sang chơi khi có em trai tôi ở nhà bao giờ. Chị giãi bày: “Sợ em trai Diễm ghét. Loại người như chị dễ bị người ta coi thường lắm”.

    Khi ấy tôi không hiểu hết ý nghĩa của câu: Loại người như chị.

    Chị hay gán ghép trêu tôi và Quảng. Tôi cười. Quảng cũng cười nhưng mắt thì vời vợi buồn nhìn chị. Trong lòng tôi thực ra không nhớ Quảng, nên tôi không buồn.

    - Chị gán ghép làm chi, anh Quảng thích chị mà?

    Chị sằng sặc cười:

    - Tầm bậy. Nó trai tơ, chị nạ dòng. Vả lại nó... nghèo quá.

    Nếu tôi yêu Quảng, có lẽ tôi đã căm thù nhìn chị khi chị thốt ra những lời như thế. Nhưng vì tôi không yêu Quảng nên thản nhiên nhìn nắng lang thang ngoài nghĩa địa...

    Quảng chăm chỉ đi làm, bất chấp cả khi khật khừ, hắt hơi, sổ mũi. Mọi người thấy chị cứ trêu tôi và Quảng nên cũng hùa theo. Quảng ái ngại:

    - Em có sợ vì anh mà không ai dám yêu em không?

    Tôi cười ngất ngư:

    - Sợ gì mà sợ. Mà anh Quảng yêu chị Trâm thật à?

    - Ờ! Nhưng mà Trâm đâu có để ý mình – giọng Quảng buồn rầu.

    Tôi đem lời Quảng nói lại với chị. Chị cười ruồi.

    - Rồi nó sẽ tỉnh ngộ thôi.

    Rồi để minh chứng cho điều mình nói, hơn một lần, trước mặt tôi và Quảng, chị lên xe con cùng những gã “béo ngậy”. Và tôi thấy trong mắt Quảng một màu đen u ám. Quảng buồn nhiều lắm. Cái cảnh yêu thầm nhớ trộm sau mà làm khổ người ta đến vậy.

    Thế mà chị ốm, Quảng cuống cuồng như hỏa hoạn. Tôi đến thăm, chị nằm trong nhà, thào thào:

    - Nếu chị chết, mẹ chị và con Chip sẽ sống sao hả Diễm?

    Tôi cười hăng hắc:

    - Chị nhát chết quá. Trẻ thế, khỏe thế, mới cúm sơ sơ đã lo chết rồi.

    Chị thở dài: Ở đây lâu rồi, cứ mở cửa trông ra sau, đập vào mắt là mấp môn hững nấm mồ. Những người sống gần nghĩa địa lâu ngày sẽ có hai cách nghĩ: một là quá quen với cảnh chết chóc đau thương, hai là lúc nào cũng nghĩ đến chết chóc.

    Chị nói: Chị nhặt được Chip đem về nuôi. Ai đó đã bỏ rơi nó ven đường, đúng lúc chị đi qua thì nó khóc thét.


    *


    Tôi tin chị, ngon lành tin chị.

    Tròn một năm làm ở quán ven hồ, tôi có cảm giác như không có gì thay đổi. Hôm qua, hôm nay và ngày mai cũng thế. Chỉ có tôi và Quảng là quen với vai trò người yêu hờ của nhau. Mắt Quảng buồn sâu hơn khi nhìn chị.

    Ngày lễ, chủ quán mời mọi người ăn tiệc. Bữa tiệc ấy chị say mèm, tôi và Quảng phải hộ tống chị về. Dọc đường, chị nôn tất tật những gì đã ăn lên lưng Quảng. Quảng cằn nhằn: “Bà này buồn gì mà uống ác vậy”. Đêm ấy tôi ở lại trông chị. Nửa khuya, chị tìm điện thoại, tôi nghe giọng chị mênh mang: “Quảng à, em có bao giờ nhớ chị không?”.

    Chị có lẽ chẳng chờ Quảng trả lời, cúp máy rồi im lặng.

    Sáng hôm sau chị dậy, tỉnh táo như chưa hề có trận say mềm hôm truớc. Quảng xộc vào cửa, vẻ thẫn thờ, lo lắng. Thấy Quảng, chị phá lên cười khanh khách:

    - Này em! Hôm qua nghe chị hỏi thế, sợ quá hay sao mà cúp máy vội vậy?

    Quảng đứng im, lúng túng, định nói điều gì, lại thôi. Chị cười:

    - Cái thằng... nhát gan thế. Chị dọa thôi. Vậy thì bao giờ mới lấy được vợ?


    III


    Quảng lấy vợ... Tần ngần cầm thiệp hồng trao tay anh chị em chủ quán. Việc Quảng lấy vợ ai cũng biết trước đó nhưng vẫn trêu tôi: “Ồ, sao tên cô dâu không phải Diễm vậy?”.

    Ai được Quảng mời cưới cũng hăng hái đi dự. Thứ nhất vì ai cũng quý Quảng. Thứ nhì: nhà Quảng gần biển. Nói đến biển ai nấy đã sướng rơn rồi. Thật là một công đôi việc.

    Biển quê Quảng đẹp và lãng mạn. Mặc cho mọi người mải vui chơi, tôi và chị ở nhà giúp Quảng dựng rạp, rửa bát đĩa. Mẹ Quảng cảm động, coi tôi và chị như con gái trong nhà. Lúc nào chị cười, Quảng cũng cười. Nhưng nhìn Quảng cười, tôi ước chi anh khóc. Anh khóc trông còn hay hơn nhiều...

    Dâu rể xong xuôi cả “quán cà phê” kéo nhau về phố. Quảng và người thân bịn rịn vẫy tay chào. Chị là người cuối cùng lên xe. Xe chuyển bánh. Biển xanh bắt đầu trôi về phía sau...

    Chị bật khóc.

    Khóc nức nở.

    Khóc thỏa thuê.

    Khóc không giấu diếm.

    Tất cả lặng đi để tiếng khóc của chị trôi về với biển.


    *


    Lúc này thì Chip đang ngồi chống cằm dưới gốc liễu bên hồ. Quanh hồ toàn liễu rủ. Những cây liễu mùa xuân mà khô khốc như đột ngột bị chết khô vậy. Năm nay rét đậm. Cá dưới hồ lại không chịu nổi. Lại chết. Xác cá nổi lềnh bềnh trên mặt nước cùng rác rưởi. Chip chống cằm tư lự như không nghe thấy gì, không ngửi thấy gì, không biết nó đang nghĩ gì...

    Mấy ngày nay tôi đi làm, mang theo Chip, như xưa chị vẫn mang nó theo. Hai dì cháu dắt nhau đi bộ qua một dãy những ngôi biệt thự tuyệt đẹp đang hoàn thiện. Một chú bẹcgiê to vật vả bị xích ở gốc điệp ven đường. Mắt nó ánh lên điều gì đó như thiết tha, cầu khẩn. Chip lắc tay tôi:

    - Dì ơi! Mình đón nó về nuôi đi!

    - Không được. Nó có chủ, không phải chó hoang con ạ.

    - Sao chủ nó lại không cho nó ăn?

    Câu hỏi của Chip khiến tôi buồn tê tái. Chao ôi, Chip bé bỏng hai lần mồ côi. Lẽ nào linh cảm được nỗi bất hạnh của đời mình mà Chip sớm động lòng trắc ẩn.

    Chip quấn quýt chị em tôi như thể nó biết, ngoài chị em tôi ra, chẳng còn ai thân thích trên đời. Từ ngày chị đi, Chip sống với bà ngoại. Hai bà cháu thui thủi, buồn sao là buồn. Đêm đêm, tôi nằm nghe muỗi bay vèo vèo quanh màn, tựa hồ như nghe thấy những linh hồn trong những nấm mồ ngoài nghĩa địa kia đang nói chuyện với nhau. Chuyện về những kẻ dương gian lắm điều, bạc bẽo. Tôi nghe tiếng Chip hồn nhiên nói với em trai tôi: “Cậu ơi, lớn lên cháu cưới cậu nhé!”. Tôi nghe lời chị thì thào nhòe ướt: “Diễm à, chị không ngốc đâu. Một người tốt như Quảng, chị ngu gì mà từ chối. Nhưng em ơi! Khi yêu, chẳng ai muốn đem bất hạnh cho người mình yêu. Chị đã mắc AIDS trong những lần đi khách. Chị...”.

    Nghĩa địa ngổn ngang cỏ dại. Trong số những nấm mồ còn mới nguyên, có nấm mồ ghi tên chị.

    Chip vẫn ngồi chống cằm tư lự. Gió hiu hiu thổi. Chip đang nghĩ gì nhỉ? Tôi không bao giờ hỏi con bé: “Con đang nghĩ gì?”. Không hỏi, nhưng tôi lại càng muốn biết con bé đang nghĩ gì. Có thể Chip đang nghĩ “Những cây liễu mùa xuân sao lại úa tàn như đã chết thế kia?”. Mà có thể Chip chẳng nghĩ gì hết. Một con bé con thì nghĩ gì nhiều cơ chứ...

  2. #12
    Thành Viên Cấp 3
    Tham gia ngày
    Feb 2008
    Đến từ
    Sapphire
    Bài gửi
    572

    Ngang qua mà nhớ

    Ái Duy

    Có lẽ lúc đó đã quá nửa đêm, căn phòng trọ ở cái nhà nghỉ vắng vẻ lọt thỏm giữa vùng núi đồi thung lũng này lại không có đồng hồ treo tường, dường như Như bị đánh thức bởi một cái gì đó mơ hồ rờn rợn đang lan tỏa trong không gian bốn bề tịch mịch yên ắng. Tất cả các ô cửa đều được đóng kín. Không tiếng ì ì của động cơ, không tiếng người rì rầm, không cả tiếng côn trùng ếch nhái chó mèo...

    Như nhìn sang cái giường đơn còn lại bên cạnh. Linh, cô bạn đang ngủ say nhưng sao mắt chỉ khép hờ, hàng mi run rẩy lay động, môi mấp máy. Như nhỏm dậy ngó vào mặt bạn, có vẻ như Linh đang chật vật trong một cơn mơ. Cô lay vai Linh, "Sao vậy, mơ gì mà mệt quá vậy hả?”. Linh choàng mắt nhìn Như thảng thốt, "Hình như có ma !". Như phóng một phát vèo qua ngay giường bạn, "Nói tầm bậy, đi đường mệt nên ngủ bị bóng đè chớ gì". "Không phải, có ai đó kéo tay mình lôi đi, mình dằn lại gọi Như mãi". "Tào lao, thôi ngủ đi cho khỏe mai còn bươn về. Tao hy sinh nằm chung với mày vậy, đừng sờ soạng ẩu nghe". Linh vẫn không yên, "Nhưng mày phải nhớ, lay tao dậy ngay tức thì...". Như ừ ừ trong miệng, chốn này ngày xưa rừng thiêng nước độc, là nơi từng diễn ra những trận giao tranh ác liệt, mồ chôn bao tử sĩ vô danh chớ có coi thường. Hồi còn con gái Như vẫn thường hay gặp phải một triệu chứng hãi hùng khó giải thích trước khi đi vào giấc ngủ, mà những người lớn trong nhà vẫn gọi là bị bóng đè. Đó là cái cảm giác chết dần dần cuồn cuộn lạnh lẽo từ chân lên và cái sự chống trả kịch liệt của bản năng để giành giật lại sự sống cho mình. Nó kinh khủng ở chỗ mình vẫn cảm nhận được sự việc đang diễn ra chung quanh mà lại giống như bị rơi vào lỗ đen vũ trụ. Bà ngoại hay ôm Như vào lòng sau những lúc cô vùng dậy được, rồi bày: "Khi mô như rứa thì con niệm thầm Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn thì chuyện chi cũng tai qua nạn khỏi". Bây giờ thì Như cũng đang niệm liên hồi.

    Như nằm dịch ra để tránh chạm vào người Linh, cô không có thói quen ngủ chung với người khác ngoài chồng con mình. Con đã lớn, chồng không còn, Như dần phát hiện ra cái thú được tự do buông thả một mình một cõi sau một ngày lo toan. Lúc đó cô có cảm giác như mình vất được cái thể xác vay mượn qua một bên, tâm trí hoàn toàn thư thái.

    Lạ chỗ nên gần như suốt đêm Như không ngủ. Cô lắng nghe, khi thì tiếng chim heo bay ngang thả rơi xuống không trung mấy âm thanh rời rạc thảng thốt, khi thì tiếng cựa mình trò chuyện của rừng cây bạt ngàn bên ngoài, khi thì tiếng gió thì thào bên cửa sổ. Không phải là Như không sợ ma, rất sợ là đằng khác, ai mà chẳng sợ cái mình không biết, không hiểu. Tuy nhiên, từ ngày chồng mất cô đã nhìn thế giới cõi âm bằng con mắt khác. Những đêm mất ngủ Như hay lắng nghe âm thanh trong đêm, mơ hồ đoán định và chờ đợi. Hồi xưa chồng Như hay đi làm về khuya, thường tự mở cửa vào nhà, tự tắm rửa ăn uống rồi yên lặng vào phòng riêng của hai vợ chồng mà không phải đánh thức ai. Một đêm mơ màng chưa thiếp ngủ, cô nghe tiếng tay nắm cửa xoay, tiếng bước chân nhẹ nhàng, rồi tiếng gieo mình xuống cái nệm có trải chiếu trúc mà cô đang nằm, cả một hơi thở nhẹ quen thuộc bên tai. Như mở choàng mắt nhìn qua ngay bên cạnh mình: không có ai khác! Nước mắt cô ứa ra, giá mà cứ có ma thật...

    Hôm qua là một ngày rong ruổi trên đường. Bỗng dưng không mục đích, không người quen, không định trước, hai đứa rủ nhau đi lên cái thị trấn heo hút nằm ở rẻo cao giữa một vùng rừng núi bạt ngàn mà chẳng hề biết gì về nó ngoài cái tên và những gì mà các phương tiện truyền thông truyền đạt. Khi Linh buột miệng khoe "Hình như không có chỗ nào trong nước mà tao chưa đi", ý nói các điểm du lịch có trên bản đồ. Như bĩu môi, "Chắc không? Đố mày biết Khánh Sơn ở đâu?". Linh nhảy nhổm, "Phải rồi, ông Định nhà tao cứ hẹn mãi. Nghe nói đó là một thị trấn trong sương, là một Đà Lạt thuở chưa khai hóa". "Bây giờ đi không?". "Thiệt hay giỡn đó? Mày mà dứt ra khỏi công việc được à?". "Ừ, nhưng tao không thích đi chung với cái gia đình quý tộc của mày đâu". "Xì, tao lấy xe máy chở mày. Có 100 cây số, đi tà tà ba tiếng đồng hồ tới nơi chớ bao nhiêu".

    Ừ thì đi. Hai đứa hai cái mũ bảo hiểm nai nịt kỹ càng nhất quyết không chừa ra một phân vuông da thịt nào cho nắng rọi. Tháng sáu chưa có mưa, đường nhựa nóng chảy như đang bốc khói, lấp loáng ảo ảnh cuối chân trời, cát trắng loa lóa. Qua Ba Ngòi, vừa đi vừa hỏi rồi cứ nhắm hướng tây mà trực chỉ. Mãi rồi hai đứa cũng lọ mọ lên được tới đỉnh đèo, cái cổng chào kỳ vĩ của thiên nhiên ban tặng cho thị trấn. Đèo dốc dằng dặc quanh co ôm theo sườn núi, hai bên rừng giang ken dày lá non li ti xanh mướt, thấp thoáng bóng thông giữa mùa hạn đang nhú đọt trên cao. Như hối bạn dừng xe lại sợ bỏ lỡ khoảnh khắc hiếm hoi được tận mắt chứng kiến cảnh quan tuyệt đẹp đang hiện ra dưới tầm mắt mình. Có lẽ họ đang ở độ cao gần ngàn mét. Con đường đèo vừa đi qua ngoảnh lại chỉ thấy đứt khúc ẩn hiện, những dãy núi màu lục chập chùng lô xô đuổi bắt nhau hướng về phía mặt trời mọc, nơi đại dương xanh ngắt thăm thẳm bàng bạc nối chân trời, xa xa là vịnh Cam Ranh bên những doi cát trắng lấp lánh chấm phá. Thung lũng Tô Hạp trải ra trước mắt. Như làu bàu, "Đèo đẹp như vậy mà không có cái tên cho ra hồn, người ta thì là Hải Vân, Ngoạn Mục, An Khê!".

    Từ thị trấn Tô Hạp, bỏ khu dân cư hai đứa cứ đi mãi mà chẳng biết cuối con đường là gì, chỉ thấy hai bên là đồi thông xanh um vươn cao râm mát, đường quanh co uốn lượn lên dốc xuống đèo. Chạm ngã ba Tà Gụ, Linh rẽ trái rồi ngần ngừ băng qua một cây cầu treo làm bằng những thanh gỗ bắc qua sông, cảm giác như mặt đất cũng đang nhún nhảy nhịp nhàng theo. Gió sông thổi lồng lộng, đường vào Sơn Hiệp um tùm những vườn cà phê đang mùa thu hoạch. Những ánh mắt thân thiện và tò mò bên nương rẫy dõi theo chiếc xe máy đang ngập ngừng khám phá. Đất đỏ trơn như bôi mỡ, chiếc xe bị trượt nghiêng mấy lần bê bết bùn. Ngang một vườn cây ăn trái rộng lớn đầy nhóc mãng cầu xiêm, bơ và điều, Linh cười rũ rượi chỉ cho Như xem tấm bảng cảnh báo bằng tôn méo mó treo lủng lẳng phía ngoài bờ rào, trên đó chủ nhân viết nghuệch ngoạc bằng sơn đỏ dòng chữ rùng rợn Coi chừng có chông. Linh cố nín cười, "Mày nên đeo sau lưng cái bảng như vậy, thêm dấu huyền trên chữ chông". Sáng kiến hay, hàm nghĩa sâu xa! Coi chừng có nghĩa là hiểm họa có thể xảy ra, và nó lơ lửng đâu đó; trong khi chồng thì lại là một thực thể hẳn hoi hợp pháp, tồn tại như bóng với hình. Chồng chỉ có có hoặc không, chứ không có thể hoặc không thể...

    Chắc là Linh chỉ vô tình khi đùa giỡn như vậy với Như. Không ai có thể biết được Như nghĩ gì. Giữa đám bạn, đôi khi cô là hoạt náo viên, là trung tâm thu hút sự chú ý của mọi người nhưng cũng có lúc âm thầm như cái bóng. Cái bóng ấy lại có thể đang cực kỳ hạnh phúc hoan lạc dù đang mang một bộ mặt nặng chình chịch như trát chì và ngược lại, cười nói đẩy đưa đó mà lòng dạ như đứt ra từng khúc. Sau biến cố lớn của đời mình, ai cũng tưởng Như giống như dây leo không còn nơi nương tựa. Cơn bão đi qua phạt ngang cổ thụ, dây leo oằn mình xuống đất tìm đường mà đi. Rồi nó có vươn ra được ánh sáng hay cứ phải lắt lay mà tồn sinh, không ai có thể nói trước được.

    Linh trở mình, bộ vòng xi-men nơi cổ tay khua lanh canh, "Sao mày cứ mở mắt thao láo vậy, ngủ ít mắt sẽ thâm quầng, da dẻ cũng héo tàn theo cho coi. Tao đây mà cũng chẳng thèm nghĩ ngợi gì cho mệt". "Lại thêm một sự ngộ nhận", Như thầm nghĩ.

    Cuộc đời Linh là nỗi ước ao trong mơ của hầu hết bạn học cũ, trừ Như. Ở tuổi 40, Linh đẹp rờ rỡ, nhìn vào là thấy cả một bình nguyên phì nhiêu màu mỡ tốt tươi, Linh lại khéo chăm chỉ trau chuốt. Cô có một tòa nhà lộng lẫy kề bãi biển, có một ông chồng đẹp trai lừng lững lúc nào cũng dịu dàng ân cần chăm sóc ga-lăng với vợ trước mặt mọi người, có hai đứa con một trai một gái ngời ngợi như người mẫu. Tất cả đều có nghề nghiệp hái ra tiền. Duy chỉ mình Như biết Linh bị u nang phải cắt bỏ tử cung ba năm trước đây, biết chồng Linh có tính trăng hoa vô bờ bến... Như không được cái may mắn có một cuộc sống yên ổn bình thường như những người đàn bà khác nhưng cô cũng chẳng dám phàn nàn số phận. Cô chưa bao giờ thắc mắc tự ti tại sao trời lại ban cho mình một nhan sắc khiêm nhường đến vậy. Cô cũng chưa hề đủ giàu có để có thể mua hết những cuốn sách mà cô mơ ước. Thế nhưng, tự trong thâm tâm, cô vẫn cảm thấy mình như còn mắc nợ cuộc đời, bởi vì cuộc đời có lấy đi của cô cái gì thì cũng độ lượng ban tặng lại cho cô cái khác...

    Cuộc đời đã đền bù lại cho Như bằng một đặc ân mà không phải ai cũng có được, dù muộn màng: Tình yêu. Tình yêu đầu tiên trong đời và cũng có lẽ là duy nhất đã hồi sinh lại cho cô tất cả, nó vực cô ra khỏi cái thế giới tang tóc, nó đánh thức sự đam mê, nó trao cho cô quyền lực của một người đàn bà, nó làm sống lại tuổi thơ trong trẻo. Chỉ có điều, nó đến vào lúc cô không ngờ nhất và lại không thể tồn tại song hành cùng cô đến suốt cuộc đời, nó chỉ thong dong ghé ngang qua, cuộn xoáy dữ dội thành một cơn lốc nâng tâm hồn cô bay bổng lên tận chín tầng mây rồi từ từ tan biến như một quy luật tất yếu. Như biết trước điều đó, nên khi chạm chân lại xuống mặt đất ở thì tương lai, cô không bàng hoàng tiếc nuối, không đau khổ oán hận; cho dù không một phút giây nào có thể nguôi quên.

    Linh đã lẳng lặng trở dậy, vói tay đẩy cửa sổ. Nắng sớm ùa vào chói chang tràn ngập. "Đành phải về thôi", giọng Linh đầy hối tiếc khi nhìn ra màu xanh bạt ngàn của núi rừng vây quanh khu nhà nghỉ.
    "Không gặp được mùa có sương mù, mình lại chỉ có thể một lần đi ngang qua, chỉ có vậy". Như phì cười cảm thông. Tối qua sau khi rời quán cà phê hai đứa mới ghé vô bưu điện để gọi điện thoại về nhà - cả hai mạng Mobi lẫn Vina đều không phủ sóng được tới đây. Tình cờ Như gặp lại người quen cũ, cuộc hàn huyên khiến hai đứa sửng sốt ngẩn người khi nhận ra mình chỉ mới rong chơi dọ dẫm phía bên ngoài của vùng đất lạ này. Bạn đã đến thác Tà Gụ chưa? Cái thác nước hùng vĩ đổ xuống ở độ cao 40 mét ấy? Giàng ơi, ở đâu vậy? Chỉ cách ngã ba Tà Gụ vài ki-lô-mét thôi sao? Lại còn thung lũng tử thần Ô Kha nữa, sao bọn mình lại không nhớ tí gì cả, chán thật, chỉ biết đi loanh quanh. Con sông Tô Hạp uốn lượn chảy quanh nghe nói đẹp là thế, mình lại chỉ được chứng kiến dòng chảy lờ đờ cạn kiệt từ ô cửa quán cà phê bên chợ. Chao ôi lại còn không chiêm ngưỡng được nơi phát tích của bộ đàn đá lẫy lừng. Làm sao bây giờ, sáng mai lại phải về sớm rồi. Thôi thì dịp khác, cho dù bao nhiêu dịp khác đã trôi qua trong đời. Bạn trở thành cư dân thị trấn miền núi này từ mười mấy năm rồi sao? Điện, đường chỉ mới có dăm năm trở lại đây thôi mà? Không có ý định về xuôi sao? Có chứ, khi mới lên đây công tác mình cũng nghĩ thị trấn này chỉ là nơi ghé lại mà thôi. Còn bây giờ thi thoảng về Nha Trang thăm nhà, nóng bức chật chội quá chịu không nổi phải vội vàng khăn gói trở về lại nơi này!

    Còn mình thì sao, Như thầm nghĩ trên suốt chặng đường đội cái nắng đổ lửa để về nhà. Có những nơi mình chỉ được đi ngang qua thôi, nhưng rồi sẽ phải nhớ suốt đời. Nhưng tội tình gì mà phải như vậy?

  3. #13
    Thành Viên Cấp 3
    Tham gia ngày
    Feb 2008
    Đến từ
    Sapphire
    Bài gửi
    572

    Chiều sương

    Bùi Hiển

    Vào một chiều trung tuần tháng giêng, chàng trai ấy lang thang trong những ngõ hẻm làng. Chàng đi không mục đích, hồn lặng thấm cái êm ả lắng tự vòm trời trắng hơi biêng biếc như giát bạc, cái êm ả của những cuối ngày thôn dã. Chàng đi và nghĩ đến trăm điều vu vơ, những ý nghĩ thoáng qua trong trí rồi vỗ cánh bay đi, như những con bướm đa tình vội hôn đóa hoa này để đến với hoa kia.

    Chàng đi lơ đãng, đến nỗi sương tỏa xuống mù trời từ bao giờ mà chàng không biết. Sương bạc đã tỏa rất nhanh, một cách bất ngờ. Thấy ẩm lạnh trên đầu và có hơi nước đọng trên mi, chàng mới ngơ ngác nhìn lên.

    Cảnh vật, như dưới một đũa tiên mầu nhiệm, đã tan biến trong giây phút. Chỉ còn trơ lại quanh mình những nét thâm thâm của vài nhánh cây khẳng khiu và những vuông xám mờ của các túp tranh. Những bụi xương rồng và râm bụt chạy hai bên đường đẫm sương, óng ánh, xanh tươi lại. Vài mạng nhện mắc giữa hai cành yếu, trắng toát như dệt bằng những sợi tơ bạc li ti.

    Trời không lạnh lắm, nhưng hơi sương ngấm vào mình; chàng trai lẳng lặng trong tâm hồn buồn, cái buồn tê tái và mang mang, cái buồn ôm trùm, như kết bằng những sầu thảm nào mơ hồ và đã xa xôi lắm, tưởng tượng hay là thực, chàng cũng không biết nữa. Hơi ẩm đọng trên mi, chàng tưởng nước mắt rưng rưng.

    Chàng đi lang thang, mặc hồn lang thang... Sương bay từng luồng, hạt sương bám khẽ vào da mặt như một làn phấn bụi.

    Những tiếng người trao đổi trong sương, như gần như xa, lãng đãng. Ngoài sông mờ, bóng một chiếc thuyền chài sửa soạn ra khơi: sương mù đã tới báo mùa cá thu. Chàng rẽ vào nhà một ông bạn già. Chàng thấy lão đang ngồi xổm đan lưới, hai chân co trước ngực, mình quàng trong một manh chiếu vuông buộc túm một đầu để khoanh lấy cổ, thứ áo tơi và áo rét của dân chài.

    Chàng chào, và lão Nhiệm Bình với dáng điệu giản dị của những người chất phác, vỗ vai người bạn nhỏ, bảo ngồi trên phản. Chàng hỏi:

    - Cố (1) không đi biển à?

    - Không, chú ạ. Già rồi, không năng đi được nữa.

    - Cố kể chuyện đi chài nghe đi.

    Chàng nói thế bằng cái giọng nũng nịu của đứa cháu vòi bà. Chàng thường đến đánh bạn với lão chài, và ông lão, đối với chàng trai mới lớn, có một tình yêu thương che chở, tốt quá mức đến cưng chiều, như tình yêu thương mà tất cả những người già đùm bọc trẻ con. Lão cười đáp:

    - Còn chuyện gì mà kể nữa! Chú nghe hết cả chuyện của tôi rồi.

    - Không... Cố phải kể đi... à, cố kể chuyện ma đi. Cố đi chài có bao giờ gặp ma không?

    Lão Nhiệm Bình có một nụ cười hồn hậu nhuốm vẻ độ lượng của kẻ không biết từ chối bao giờ.

    - Chuyện ma à? Tôi cũng ít khi thấy ma lắm... Có vài lần thuyền neo ngoài khơi, tôi ngồi câu đêm, thấy giằng mạnh ở câu, vội kéo lên. ái chà, sao nặng khiếp. Mà lạ, chỉ thấy nặng thôi, như có tảng đá trì giữ lại, chứ không thấy giật giật vùng vẫy như con cá to. Tôi nghĩ thầm: khéo lại cái nố ta (2) rồi, hắn muốn trêu mình đây... Quả nhiên! Tôi vừa kéo câu lên khỏi mặt nước, thấy hắn xòa một cái, xanh lè cả nước biển, mình hết hồn. Nhìn lưỡi câu, con mực mồi vẫn còn nguyên.

    Đó, tôi chỉ gặp vài lần như vậy thôi. Đêm khuya lạnh lẽo, vắng vẻ, chắc cụ buồn tình, bày chuyện phá mình tí cho vui.

    Có người họ kể, đêm ở ngoài khơi, trời êm biển lặng, mọi người đang neo ngủ, thấy các chú bơi lù lù rồi trèo lên ngồi dăng dăng hai bên mạn thuyền; họ nói: "Thôi mà, anh em mình cả, trêu nhau làm gì?", thế là cả bọn nhảy sùm xuống, bơi đi.

    Mồ ma ông cụ Bình khi xưa, dạn khiếp. Nửa đêm ông ta đi lưới về, qua dưới cây đa trước miếu, một bầy hắn bíu lấy tay. Không thấy người đâu, nhưng nghe tiếng hắn léo nhéo xin cá. Ông ta đáp: "Chà, xin với xỏ, được mấy con cá về cho vợ con đây!". Thấy nhẹ trong rổ, sờ vô thì cá đã biến mất. Ông ta nạt: "Đồ quỷ, cứ nghịch thôi!". Thế là tiếng cười bật lên ríu rít, hồi sau lại thấy nặng rổ.

    Lão chài kể như vậy, giọng bình thường như nói chuyện người dương gian (3), tay vẫn thoăn thoắt đưa que đan qua mắt lưới. Chàng trai khẽ rùng mình thích thú. Chàng vốn không tin ma quỷ; chắc chắn đó chỉ là điều huyễn tưởng (4), nảy sinh từ một khung cảnh, một tâm trạng nào đó; nhưng có thể nào không tin ở cái giọng kể từ tốn hiền hòa của ông lão! Trong ý nghĩ lão chài, chàng đoán, âm dương không phân ranh giới rõ ràng, cõi sống và cõi chết nương nhau vấn vít. Mấy chú ma, hồn của những người dân chài đã bỏ mình trong bão tố, trở về ngồi lặng lẽ trên mạn thuyền, chắc hẳn chỉ để tìm lại chút hơi ấm cuộc đời, vì cảm thấy lòng biển quá mênh mông, lạnh lẽo. Và tuy đã tìm thấy cái chết trong tai ương (5), bi thảm và dữ dội, không phải bao giờ hồn họ cũng ngậm giữ oán hờn; họ còn biết nghịch ngợm đùa trêu người sống, và chàng trai tưởng nghe, vẳng từ sương mù dày đặc, tiếng cười giòn ríu rít của những cái bóng vô hình cạnh cây đa già miếu cổ...

    - Có bao giờ người ta thấy một cái thuyền ma, hay cả một đoàn thuyền ma không, cố?

    Chàng trai lại cất tiếng hỏi.

    - Thuyền ma à?... à... có một lần, đã lâu lắm, chính mắt tôi thấy. Hồi ấy tôi còn trẻ lắm, tôi còn đi trai dưới thuyền mồ ma (6) ông Phó Nhụy... ờ cũng trời sương mù mịt như thế này, thuyền thì vừa tháo tố xong, thoát nạn chết này lại đâm liền vô nạn chết khác.

    Bữa đó thuyền ra lạch...

    *
    * *

    Sáng hôm ấy, một buổi sáng thanh quang. Bình minh giát ánh vàng trên những dải mây bông thoáng nhẹ. Các bác chài tay đưa chèo theo nhịp đều đặn, ngước nhìn trời, lòng không ý nghĩ, không lo lắng. Nhưng khi thuyền chạy ngang nhà Thương chính, một chiếc xuồng do hai đứa con nít chèo bỗng lướt ngang trước mũi. Mọi người chửi rủa chúng ầm ĩ; dân chài rất kiêng bị "ngáng đường" như thế, và ông lái hơi nhăn trán lại.

    Ra khỏi lạch (7), thuyền kéo buồm bắt cơn gió tây nam chạy thẳng ra khơi. Chiếc thuyền, dáng hơi nặng nề, lừ đừ tiến, hai mắt tròn trân trân nhìn về trước. Khi một ngọn sóng kéo đến, nó chồm dậy rồi đâm chúi xuống, làm tung tóe một làn nước bạc xóa. Càng xa bờ, sóng càng bớt mạnh, chỉ còn là những cái lượn, lưng cong và rộng, kéo lừ đừ nhưng hùng cường. Những mảnh nước lớn thốc vào dưới mũi thuyền khiến bọt trắng tóe, rồi tự rẽ đôi chảy róc rách hai bên mạn. Các bác chài đã gác chèo ngồi bện dây neo, quai chèo hay tán chuyện, có vẻ không biết đến sự nhồi lắc của sóng.

    Gió lên lồng lộng, thuyền chạy phăng phăng, để lại sau một vạch phẳng lì, vì nước đã bị khối nặng của thuyền dàn ra. Nhưng chẳng bao lâu, những làn sóng lô nhô hai bên mép tiến vào và xóa mất vạch phẳng.

    Càng xa bờ, gió càng mạnh, như dậy từ bốn phương của khoảng rộng. Nắng vàng và gay gắt thêm. Khi mặt trời đứng bóng, biển biếc ngả sang mầu lục.

    Ông Phó Nhụy, nhà nghề và chạy lái, ra lệnh bỏ neo (8). Đoạn người ta tháo dây neo cho thuyền trôi tới gần chỗ đã thả bóng hôm trước. Bóng là một cái lồng tròn lớn và đan thưa, thả lưng chừng nước, trong có lót lá tre làm chỗ êm mát rủ cá lội vào. Cạnh bóng, người ta cột vài ba cây gầy, một loại tre vầu. Cá tìm thấy ở đó một nơi nghỉ tới nhóng xung quanh, có khi hàng đàn lớn.

    Hai bác chài, lặng lẽ và nhanh nhẹn, ngồi đầu mũi thả lưới, trong khi thuyền, dưới mái chèo, nhẹ tiến tới. Sau một lát chờ đợi, thuyền lùi lại và hai bác, có thêm người trợ lực, kéo dần lưới lên. Những con cá mắc đầu vào mắt lưới, giãy đành đạch làm lóe những ánh bạc biêng biếc. Vài con cá nhỏ nhảy lanh tanh trong đám rong rêu lẫn những hạt tròn nhớt và trong, mà người ta gọi là trứng nước. Bình hồi ấy còn là một chú trai quèn, túm từng mảng lưới hất mạnh cho cá bật vào rổ rồi đổ dần cá xuống khoang. Từ khoang bốc lên một mùi tanh mặn và man mác, mùi của biển cả. Những con cá trích, cá đốm, lẫn cá thu, cá hồng, mắt tròn mở trân trân, há miệng méo xệu một cách tuyệt vọng cố hớp không khí, trong tiếng lách tách của vây cứng.

    Thuyền nặng dần, đè ép sức lắc nhồi của sóng. Chú Trai đã đi thổi cơm. Xế trưa, thuyền nghỉ để dùng bữa. Trên mâm gỗ, lỏn thỏn hai bát cá đầy và một bát muối; cạnh mâm, một rá cơm và một xanh canh cá. Cơm xới trong bát đầy có ngọn, các bác chài và rất nhanh như chèo đua cho chóng xong bữa. Chợt một bác kêu:

    - Nhìn kìa!

    Và chỉ ra phía bên trái, chỗ mặt nước lăn tăn báo có đàn cá đi qua. Mọi người vội vàng bỏ đũa, kẻ chạy đến chèo, kẻ chạy đến lưới.

    Họ mê mải trong công việc trong khi trời đã ngả về chiều. Mặt trời, lúc còn ba con sào, bỗng khuất sau đám mây. Bác Hoe Trăn nhìn lên và kêu:

    - Coi kìa! Trời đổ ráng ngoài.

    Mọi người nhìn theo, lo ngại. Ông nhà nghề, hơi rụt đầu trong cổ béo, quay ngó xung quanh, cũng kêu theo:

    - Sắp có tố (9) đến nơi!

    Họ vừa nhận thấy điềm báo không thể lầm lẫn. Trời đã đột ngột đổ ráng ba phương đỏ rực: ráng ngoài, nơi chân trời, và phía trong bờ, hai ráng Lò (Cửa Lò), ráng Cương (Cương Gián). Mặt các bác chài đỏ cháy lên trong ánh phản chiếu. Ông nhà nghề ra lệnh:

    - Kéo lưới lên! Giương buồm!

    Chân người chạy trên sạp rầm rập. Các bác chài co chân đu mình trên dây để kéo buồm, miệng "dô hò" lấy nhịp. Một bác hỏi:

    - Gió gì?

    Người khác đáp:

    - Gió trong. Khó tháo kịp.

    Gió từ bờ thổi ra, thuyền cố vát (10). Sóng vùng lên, cuốn, réo, đuổi dồn nhau, va vào nhau tóe bọt, ngụp xuống, trồi lên, đã thấy một sức mạnh hỗn độn và bất ngờ trong gió vừa cuồng lộng (11) thổi. Buồm vát không ăn gió, xương buồm đánh cành cạch lên cột, có khi cọ vào gỗ rít ghê tai. Hình như thuyền trôi lùi ra khơi. Nhìn vào bờ để lấy cữ, ông Phó Nhụy kêu:

    - Mưa đến rồi!

    Phía bờ đã mờ mịt sau màn mưa trắng bệch, mặt sóng trong kia thâm sẫm lại. Mưa tiến ra khơi rất nhanh phát thành tiếng ào ào, một giây sau, các bác chài, ngồi co mình trong tơi chiếu, đã vuốt mặt không kịp.

    Một bác bảo:

    - Bỏ neo thôi, không lại bạt mãi ra ngoài khơi đông xích đế cho mà coi.

    Neo buông xuống nước. Trong khi dây neo tụt xuống vùn vụt, thuyền trôi lùi về sau, đoạn giật nảy mình, chúi hẳn mũi: dây đã tháo hết. Người ta hạ buồm. Nhưng từ đó, thuyền cứ hục hặc với dây neo như một con trâu dữ bị buộc. Sóng đánh té tát, khi mũi thuyền chúi xuống thì vội thừa dịp nhảy chồm, nước tóe trang lang đến tận sau lái. Nhưng rồi chiếc thuyền rấ khỏe, lại hếch cái mũi ướt sướt mướt, chờ mảng nước khác. Ông nhà nghề nhảy tới ngồi phục ở mũi thuyền, tay lăm lăm cầm con dao rựa. Những giọt nước lớn ném vào mặt ông như vốc đá cuội, khiến rát bỏng da.

    Một lần, thuyền tì lại nặng quá. Nước thốc từng mảng lớn, thuyền dốc đứng tưởng như cứ thế mà đâm thẳng xuống đáy sâu như một cái dùi. Các bác chài, miệng há ngờm ngợp vì bị nước đánh tối tăm mặt mũi, rời chỗ vịn, lăn trên sạp lông lốc. Ông nhà nghề bị ngụp trong mảng nước. Không trì hoãn được nữa! Một tay bám cọc chèo lấy thế, ông vội giơ cao con dao rựa, phăm phăm bổ xuống. Dây neo đứt phựt. Con thuyền hết ràng buộc quay mình trôi phăng phăng. Các bác chài vội nhảy đến đầu mũi giúp sức ông nhà nghề hất xuống nước cái neo sắt còn lại, mà ông này vừa chặt cánh gỗ đi. Không còn cánh, mỏ neo không cắm, nằm bẹt trượt trên nền đáy biển như một hòn sắt nặng. Như thế, thuyền không bị giằng lại, mà cũng chỉ trôi từ từ, kéo cái neo sắt rê trên đáy cát.

    Nhưng gió vun vút lên mãi, mưa bay ngang chích vào mặt dày đặc thêm, sóng giận dữ gầm réo, nổi lên như núi. Mặt người nào người nấy tái mét; tuy có tơi che, quần áo họ ước mềm dính vào da, và vải đã bở sẵn, khi thấm nước rách toạc nhiều chỗ. Chú Trai, lúc nãy bị sóng đánh lăn xuống khoang, ở luôn dưới ấy tát nước, tay lia lịa đưa cái mu sam (12). Hai bác chài tới giúp sức, chuyền cho nhau những thùng nước đầy để trút ra ngoài. Thuyền giằm, ít bị nhồi lắc, nhưng sóng dễ tràn lên; nước trong khoang nhiều đến nỗi cá nổi lềnh bềnh. Theo lệnh ông lái, người ta xúc cá đổ bớt ra ngoài; nhưng sóng biển, trong một hằn thù mai mỉa, đánh vào thuyền, trả lại. Những con cá đập lên áo các bác chài và nằm trắng ràn rạt trên sạp, chờ một ngọn sóng tràn qua liếm đi và thay bằng lớp khác. Thuyền nhẹ bớt, nổi hơn, nhưng vì thế lại làm mồi thêm cho gió, trôi phăng phăng. Người ta bèn xở buồm (13), buộc dây vào bốn góc, rồi thả xuống biển. Gặp nước, buồm mở tung như một chiếc diều mà đầu lèo (14) đã cột vào mũi thuyền. Nước cản tấm buồm rộng căng, làm cho thuyền bớt trôi.

    Đoạn, mọi người lại ngồi im lặng, co ro, cho mưa dội, sóng nhồi, gió táp. Màn mưa xám càng lúc càng sẫm thêm, rồi bóng tối ăn loang khắp không gian. Ông nhà nghề bảo:

    - Anh em ai có đói, bốc nhúm gạo mà nhai.

    Nhưng không ai trả lời. Họ ngồi thu mình, run run trong cái lạnh của nước ngấm vào da thịt.

    Chừng quá nửa đêm - họ chỉ đoán vậy, và không còn một ý niệm nào về thời gian - sóng bớt gầm réo và bớt nhồi lắc, gió hạ dần, nhưng mưa vẫn rơi liên miên. Con thuyền mệt nhọc xang đưa (15) lừ đừ. Và khi một ánh trắng xám ló nơi chân trời, thì biển đã lặng hẳn. Các bác chài, tai còn đầy cái huyên náo hồi đêm, nghe trong đó ù ù như điếc. Họ không còn đủ sức để tỏ niềm vui mừng; một cảm giác mỏi mệt và co rút hầu như làm tê liệt các bắp thịt.

    Mầu trắng sữa liếm dần bóng tối của vòm trời, và mưa đã ngớt hẳn. Nhưng trên mặt biển, ùn ùn từ đâu đến - dân chài bảo từ Thủy phủ (16) đùn lên - một đám sương mù dày đặc, mang vị mặn và hơi lạnh thấm thía. Người ta kéo cái neo sắt lên, đẽo cánh mới lắp vào, rồi neo thuyền cho đứng yên. Mỗi người góp một câu để đoán vị trí của thuyền. Họ chắc ở ngang Thanh Hóa, vì trong cơn bão, gió chướng (17) thổi từ phía tây nam. Nhưng còn cách bờ bao xa thì không ai đoán được. Một bác chài đo được hơn năm mươi sải nước và họ biết là đã bị giạt ra ngoài khơi xa lắm.

    Đột nhiên, không ai bảo ai, tất cả im lặng: họ vừa ngửi thấy một mùi kì dị, một mùi nhạt và ẩm ướt, tanh lợm như mùi rong rêu. Rồi một bóng đen dài hiện trong sương, phía trước mặt. Một người đoán:

    - Chết, mình trôi đến cồn đá. Ra nãy giờ neo rê.

    Một người khác đáp:

    - Neo rê thì biết liền chứ. Đó là cái thuyền, nhìn kỹ mà coi.

    Quả nhiên trong sương bóng đen rõ dần thành một chiếc thuyền, trên đó lố nhố những bóng người chèo. Họ chèo lặng lẽ dị thường, tưởng như thuyền lướt trên biển dầu. Một bác chài bắt loa miệng hỏi:

    - Ai đó?

    Thuyền bên kia có người đáp:

    - Thuyền Xin Kính đây. Có phải thuyền ông Phó Nhụy bên ấy không?

    Ông Phó Nhụy hỏi bạn chài:

    - Tiếng ai nhỉ? Nghe giọng lạ gớm. Mà sao họ biết thuyền mình?

    Đoạn cất cao tiếng:

    - Tôi Phó Nhụy đây. Thuyền bên ấy cũng vừa tháo tố đó phải không? Có biết đây là đâu không?

    Bên kia đáp:

    - Ngang Cương Gián. Giờ phải đi xế lên mà vô lạch.

    Trên thuyền ông Phó Nhụy, người bàn cãi lao xao. Gió thổi từ phía nam, sao thuyền lại giạt xuống ngang Hà Tĩnh được? Ông Phó Nhụy lại hỏi to:

    - Sao mà biết?

    Bên kia có một câu trả lời kì quặc và bí mật:

    - Sao lại không biết... à kìa, nồm vừa thổi đó, ta bắt ngọn gió này mau mà lên lạch.

    Trong nháy mắt, đã thấy thuyền bên kia giương buồm. Chẳng hiểu sao họ làm nhẹn và lặng lẽ được đến thế. Ông Phó Nhụy, tuy bụng phân vân, sai kéo buồm chạy theo. Trong lúc tâm trạng đang bơ vơ và còn in dấu vết sự hãi hùng vừa qua, người ta không muốn rời bỏ bạn đồng hành đã gặp tình cờ.

    Gió quá nhẹ, buồm không ăn gió đập phần phật. Sương tạt từng luồng như một cơn mưa trắng. Thuyền đi trước vẫn chỉ nom thấy dáng mờ mờ ảo ảo như trong giấc mơ, với quãng cách không thay đổi.

    Chợt chú Trai kêu:

    - Có ai như người trôi kìa?

    Một bác dùng sào khều cái vật trôi lềnh bềnh đen thui và nói:

    - Người thật.

    Họ cúi vớt người kia lên. Tay anh ta co quắp còn cắp chặt trong nách một cái chèo ngắn; mặt anh ta tái nhợt, mắt nhắm nghiền, hai hàm răng cắn khít.

    Một người bảo:

    - Hà hơi, hà hơi đi, hình như còn thở thoi thóp.

    Từ bên kia thuyền Xin Kính, tiếng người hỏi:

    - Vớt được ai đó?

    Mọi người cúi nhìn tận mặt kẻ bị nạn, nhưng không nhận ra ai. Mặt anh ta co rút nhăn nhúm đến nỗi đã méo dệch hẳn đi. Chú Trai góp ý kiến:

    - Giống như anh Hoe Chước.

    Ông Phó Nhụy nói to sang thuyền kia:

    - Hoe Chước!

    Nhưng ông lại chợt nhớ ra. Sao thế được nhỉ? Hoe Chước đi bạn (8) trên thuyền ông Xin Kính kia mà? Ông hỏi to:

    - Có Hoe Chước bên ấy không?

    Thuyền bên kia có một im lặng kì quặc. Chú Trai, thính tai nhất trong đám, nghe như bên kia đang bàn cãi gì láo nháo. Chú bỗng kêu lên:

    - Ô kìa, đâu mất rồi?

    Thuyền ông Xin Kính vừa biến đi, như vụt chìm xuống đáy biển. Cái bóng cả thuyền lẫn buồm, đen nhờ nhờ, chỉ còn để lại một khoảng trống không trắng toát, khoảng trắng ấy nhòa dần vào màu sương phơn phớt xám. Trên thuyền ông Phó Nhụy, mọi người câm lặng, tim bóp chặt trong một lo âu ghê rợn, mở to mắt nhìn trân trân.

    Chú Trai lại kêu:

    - Có tiếng gì om om lạ gớm?

    Cùng một lúc, tất cả ai nấy đều nhận ra quả có tiếng sóng đánh phòm phọp âm âm như vỗ vào hang hốc. Ngay trước mặt, một khối to đen đồ sộ vụt xuất hiện, chỉ cách thuyền vài chục thước. Tức thời, ông lái nhảy bổ tới, túm lấy lèo, giằng riết. Chiếc thuyền quặt mũi về bên trái, có một phút do dự rồi tiến theo ngả mới. Các bác chài vội chạy đi tra chèo, ráng sức chèo tới. Cái khối đen mờ dần trong sương, rồi biến đi. Ông Phó Nhụy thở phào: thuyền ông vừa suýt đâm phải núi đá.

    Khi thuyền ông Phó Nhụy, sau một buổi chạy vờ vật ngoài khơi, lần về tới lạch, thì anh Hoe Chước hơi tỉnh. Anh kể rằng trong cơn bão, thuyền ông Xin Kính bị sóng đánh giạt vào núi đã vỡ tan tành, và có lẽ chỉ mình anh sống sót, vì đã vớ được một cây chèo nhảy trước xuống biển. Những người kia, sau đó, nếu có nhảy khỏi thuyền cũng đã muộn và bị sóng quật vào lèn đá (19) đến rã xương.

    Vợ họ nay vẫn sống trong góa bụa - có người đã chết. Và cái hy vọng mong manh một ngày trở về của người thân cũng đã tắt trong họ từ lâu.



    (1) Cố: tiếng dùng gọi người già.
    (2) Cái nố ta: lũ chúng.
    (3) Dương gian: cõi dương (đối lập với cõi âm), thế giới người sống.
    (4) Huyễn tưởng: mơ tưởng, ý tưởng viển vông, không có thực (gần giống như ảo tưởng).
    (5) Tai ương (như tai họa): điều rủi ro, gây nên tổn thất, đau khổ lớn.
    (6) Mồ ma: thời còn sống của một người nào đó đã mất.
    (7) Lạch: đường nước chảy hẹp, thông ra sông, biển.
    (8) Neo: vật nặng buộc vào dây thả chìm dưới nước để giữ cho tàu, thuyền đỗ lại, không trôi.
    (9) Tố: gió mạnh đổi chiều đột ngột xảy ra trong cơn giông.
    (10) Vát: lệch, xiên chéo.
    (11) Cuồng lộng: gió thổi điên cuồng ở nơi trống trải.
    (12) Mu sam: mu con sam, cứng và lõm, có thể dùng làm gầu múc nước.
    (13) Xở: gỡ; xở buồm: gỡ buồm.
    (14) Lèo: dây buộc từ cánh buồm đến chỗ lái để điều khiển buồm.
    (15) Sang đưa: đưa qua đưa lại; đung đưa.
    (16) Thủy phủ (như thủy cung): nơi ở của thủy thần, Long vương.
    (17) Gió chướng: gió ngược, thổi từ phía tây.
    (18) Đi bạn: người đi làm thuê cho vụ, việc.
    (19) Lèn đá: núi đá có vách dựng đứng.

+ Trả Lời Ðề Tài

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

     

Chủ đề giống nhau

  1. Tuyển tập truyện cười Vôva nè ^_____^
    By thuan phong in forum Cái cười của thánh nhân
    Replies: 14
    Bài mới gửi: 24-07-2010, 08:30 AM
  2. Sưu tập truyện cười.
    By Ngư Cơ in forum Cái cười của thánh nhân
    Replies: 33
    Bài mới gửi: 25-03-2009, 01:49 PM
  3. HCM-Bán truyện lẻ tẻ cho ai cần đây
    By alone_cat in forum Mua bán, rao vặt
    Replies: 1
    Bài mới gửi: 29-10-2008, 04:17 PM
  4. Chẳng biết làm gì đành post truyện cười
    By nt3996 in forum Nhật kí 5s
    Replies: 23
    Bài mới gửi: 14-10-2008, 10:40 AM
  5. Truyện đười ươi
    By ThaiLamMobile in forum Cái cười của thánh nhân
    Replies: 0
    Bài mới gửi: 17-03-2008, 12:28 AM

Quuyền Hạn Của Bạn

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts